English English
Banner

 


Tổng số lượt bài đã được đọc:
18791705


Trang chủ arrow Tin tức: - Hoạt động hội arrow Văn nghệ, giải trí  arrow - Văn nghệ, giải trí arrow Một chuyến miền Tây

Một chuyến miền Tây

 In Email

Hẳn có bạn sẽ hỏi mình: miền Tây nào vậy? Bởi ở VN có đến mấy địa danh mang chữ "Tây": Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, thậm chí cả vùng Sơn Tây mà xưa kia người ta vẫn gọi là "xứ Đoài" (đoài là phía tây trong tiếng Việt cổ). Thưa rằng đó là miền Tây Nam Bộ, nơi có "... gạo trắng nước trong, ai đi đến đó lòng không muốn về".

Chuyến bay từ HN đi Sài Gòn (theo thói quen người dân ở đây vẫn gọi thành phố của mình) khi đến nơi thì gặp trục trặc một chút: miếng đặt chân của xe lăn bị rơi trên máy bay, phải nhờ nhân viên sân bay tìm. May mà tìm được. Mất hơn 1 tiếng đồng hồ, làm cả đoàn xuất phát từ Đà Nẵng phải đợi hơn 2 giờ đồng hồ, đói meo luôn. Khách sạn nơi cả đoàn ở là khách sạn nhỏ, vậy mà cũng gắn biển 2 sao. Khách nước ngoài cũng nhiều. Chị chủ (hay quản lí chả biết) vui vẻ mến khách, tiếng Anh giao tiếp khá tốt. Ai chị cũng gợi chuyện tâm tình. Nhận phòng xong cả đoàn kéo nhau đi ăn tối. Món lẩu cá kèo lạ miệng nhưng thật ngon (có phải vì ăn "canh mầm đá" không nhỉ?). Bữa tối đó cả khu xung quanh khách sạn mất điện làm thang máy không hoạt động, người ngồi xe lăn là mình phải chờ đến tận 12 giờ. Cũng may có kèn harmonica biểu diễn mấy bài, mọi người khen quá trời (tuy rằng đi đường mệt nên hơi bị yếu, thổi không hay như mọi ngày).

Sáng hôm sau cả đoàn lên đường đi Hậu Giang. Đoàn gồm 7 người: hai đại diện của DP Hà Nội và Quảng Nam và 5 cán bộ của tổ chức Malteser International (những cô gái dễ thương, giọng Đà Nẵng quê hương mình nghe thật ngọt ngào). Con đường từ TP. HCM đi Hậu Giang trải dài tít tắp, hai bên đường là những vườn cây trái xanh tươi, khiến mình lại chợt nhớ đến hình tượng từ hồi học Đại học Ngoại ngữ, người Nga gọi Việt Nam là "vương quốc của màu xanh vĩnh cửu". Mình đã từng đi Thái Lan, cảnh trí cũng gần như ở đây. Nhưng ở Thái Lan ấn tượng nhất với mình là những cánh đồng khô cỏ cháy, những con bò gầy giơ xương đứng dưới gốc cây xơ xác vì nắng cháy, còn ở Việt Nam cây cối xanh um, nhiều hơn, đẹp hơn (khen không phải vì lòng yêu nước đâu nhé).

Z1
Một phụ nữ khuyết tật vươn lên ở Vĩnh Thuận Đông 

Thị trấn Long Mĩ xinh đẹp, uốn mình theo bờ sông Nước Đục quanh co như rắn lượn, nối sông Hậu với vịnh Thái Lan. Ở đây tình hình trị an khá tốt, cửa rả chẳng phải đóng chặt quá. Người cũng ít, đêm đến chỉ đông vui ở một số điểm nhậu, còn lại thì vắng lặng như tờ. NKT ở đây có lẽ có rất nhiều người đi bán vé số, chả thế mà khi mình đi dọc đường, bên mình đeo cái túi nhỏ, giống quá, nhiều người cũng tưởng đi bán vé số, hỏi có số.... số... bán không. Ban đầu còn mỏi miệng phân bua là không phải (mà chẳng việc gì phải thế nhỉ), về sau cứ thuận miệng bảo "không có, không có...". Có người bán vé số mời mình mua vé số, mình bảo: "Tôi cũng bán vé số đây, anh có mua không?". Thế là cười, xin lỗi hóa ra là đồng nghiệp và bỏ đi. Có hôm ngồi đợi xe, buồn buồn lấy kèn ra thổi, vậy mà một anh cán bộ tưởng là người hát rong, liền gọi lại cho 1 nghìn (có nên lấy không nhỉ? hay là vì chê ít mà mình không lấy. Có trường hợp người ta cho 20.000 đấy, cảm ơn và lấy liền. Sau đó lại tìm cách cho lại những người khó khăn hơn mình).

Lớp học cách Nhà khách huyện ủy nơi đoàn ở gần 6 km. Đi đến lớp trên con đường rải bê tông nhựa phẳng lì, ngoằn ngoèo, giữa những vườn cây xanh um, cây cối khá đa dạng. Làng quê ở đây thật đặc biệt, sông ngòi kênh rạch chằng chịt bao quanh, xung quanh mênh mông là nước. Được cái là kênh nào cũng có cầu, những con đường rải nhựa hoặc bê-tông chạy dọc bờ kênh, những chỗ các con kênh giao nhau đều có cầu hoặc cống bê-tông. Hỏi chuyện các bạn ở đây thì những cây cầu khỉ như trong phim ảnh xưa giờ rất hiếm, chỉ ở những nơi có một vài hộ gia đình mới có, do người dân tự làm, bởi kinh phí xây cầu bê-tông quá lớn so với số hộ dân có thể đóng góp. Tên của những con kênh do người dân tự đặt, thường lấy tên của hộ gia đình ở đầu kênh, gọi mãi thành quen. Còn lại tên của kênh xáng (như kênh xáng Nàng Mau) thì lâu đời quá không ai biết từ đâu. Vì có hệ thống đường bộ dọc theo kênh rất tốt, nên giao thông đường thủy giảm dần, chỉ còn những tàu cỡ trung bình chở vật liệu xây dựng, những con thuyền tam bản trong tiểu thuyết xưa thời chiến tranh hầu như không còn. Thay vì đi đường thủy, bà con đi lại bằng đường bộ, đi ô-tô, xe máy nhanh chóng, tiện lợi và an toàn hơn.

Giờ làm việc ở đây được tuân thủ khá đúng, không dềnh dang như nhiều nơi khác. Nhan đề của lớp tập huấn: Khóa đào tạo - tập huấn cho cán bộ cấp xã, ấp về thực hiện quản lí rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng. Học viên (HV) là các cán bộ trong cơ cấu UBND xã Vĩnh Thuận Đông và các trưởng ấp (15 người); tập huấn viên (THV) là những cán bộ nguồn xuất thân từ Hội Chữ thập đỏ và Sở Thủy lợi tỉnh Hậu Giang. Có anh chàng gặp lần đầu ở nhà khách Huyện ủy, cứ ngỡ là nhân viên chạy giấy cho cơ quan, hóa ra là THV của khóa học. Khóa học do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn VN tổ chức, hai nhà tài trợ chính là AuAid và UNDP.

Z2
Trò chuyện với bà con nông dân 

Buổi khai mạc diễn ra ngắn gọn nhưng không kém phần trang trọng. Các thành phần đại biểu đủ cả: Trung tâm Phòng tránh và Giảm nhẹ thiên tai - Tổng cục Thủy lợi - Bộ NN&PTNT, Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh Hậu Giang, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Hậu Giang, UBND xã Vĩnh Thuận Đông huyện Long Mĩ - Hậu Giang, Malteser International. Những bài phát biểu ngắn gọn, súc tích, nêu rõ lí do và tầm quan trọng của khóa tập huấn: Công tác phòng, chống thiên tai được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xác định là một trong những nhiệm vụ ưu tiên và xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Đề án "Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng" (Đề án 1002) đặt mục tiêu đến năm 2020, 100% cán bộ chính quyền các cấp trực tiếp làm công tác phòng, chống thiên tai được đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực; và 70% người dân các xã thuộc vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng thiên tai được tăng cường nhận thức, kĩ năng trong giảm nhẹ thiên tai, qua đó người dân tham gia đánh giá hiểm họa, xác định nguồn lực, xây dựng kế hoạch phòng chống thiên tai với trọng tâm là thực hiện theo phương châm "bốn tại chỗ". Đây là khóa tập huấn thứ hai trong 5 xã trong tỉnh Hậu Giang, và Vĩnh Thuận Đông là xã thứ hai trong toàn quốc tiến hành tập huấn.

Malteser International (MI), một tổ chức phi chính phủ quốc tế, với hơn 100 dự án hàng năm trên khoảng 25 quốc gia từ châu Phi, châu Á và châu Mĩ, đem đến sự cứu trợ khẩn cấp cho những vùng chịu thảm họa và hỗ trợ cho những nỗ lực khắc phục hậu quả, hướng tới sự phát triển bền vững. Phương châm của MI là hỗ trợ những ai bị nghèo khổ, bệnh tật, xung đột và thiên tai, giúp họ có cuộc sống lành mạnh, đường hoàng, không phân biệt tôn giáo, chủng tộc hay khuynh hướng chính trị. MI đã phối hợp với DP Hà Nội (đối tác chính) và 6 Hội NKT TP. HCM, Quảng Nam, Đà Nẵng, Huế, Quảng Bình và Quảng Trị triển khai Dự án "Lồng ghép hòa nhập người khuyết tật trong Giảm thiểu rủi ro thiên tai" trên địa bàn 7 tỉnh. Mục tiêu của Dự án là vận động chính sách để tăng cường lồng ghép hòa nhập người khuyết tật trong Giảm thiểu rủi ro thiên tai/Quản lí rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (GTRRTT/QLRRTTCĐ) tại cấp quốc gia và quốc tế. Sản phẩm đầu tiên sau gần 2 năm hợp tác là bộ "Tài liệu hướng dẫn Lồng ghép hòa nhập NKT trong QLRRTTCĐ" được các bên liên quan đánh giá cao. Trước khi triển khai các khóa tập huấn xây dựng năng lực cho thành viên các Hội NKT tỉnh/thành về Quản lí rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng, MI tổ chức chuyến tham quan đến khóa đào tạo - tập huấn này để khảo sát phương pháp tập huấn cùng nội dung tập huấn về QLRRTTCĐ, giúp MI và đại diện của các Hội NKT tham gia dự án định hướng được các nội dung tập huấn phù hợp cho các thành viên Hội NKT trong thời gian tới.

Sau phần nghi lễ và chụp ảnh kỉ niệm, đến phần nội dung chính. Cả lớp được chia thành 4 nhóm, ngồi quanh 4 bàn lớn. Đoàn của Malteser International (được gọi bằng cái tên ngộ nghĩnh là "Nhóm Dễ bị tổn thương") được bố trí một chỗ riêng sát tường hội trường, đúng là những "quan sát viên". Ở đây nhiệm vụ của các thành viên là quan sát, lắng nghe, cảm nhận... không nói, không nhận xét góp ý, không đế thêm lời nào... đồng thời ghi chép lại những cảm nghĩ của mình về lớp học, về THV, HV, phương pháp giảng dạy, hiệu quả của phương pháp, v.v... và v.v... hệt như những chú học trò nhỏ cắp sách đi học hỏi kinh nghiệm vậy.

Buổi tập huấn đầu tiên tiến hành với những thủ tục như mọi lớp tập huấn khác: Phân phát tài liệu; giới thiệu làm quen; phát bảng hỏi đánh giá đầu vào; bầu lớp trưởng lớp phó; phổ biến nội qui; HV nêu nguyện vọng của mình...
Ngày đầu tiên, các THV giới thiệu về hai tài liệu cơ bản: "Tài liệu Quản lí rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng" và "Tài liệu hướng dẫn đánh giá rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng".

Sau đó các HV được giới thiệu những khái niệm cơ bản liên quan đến rủi ro thiên tai như: Cộng đồng, thiên tai và các loại hình thiên tai, rủi ro thiên tai, tình trạng dễ bị tổn thương (TTDBTT), năng lực phòng chống thiên tai... từ đây rút ra một khái niệm hết sức cơ bản, đó là mối liên hệ giữa các yếu tố:

Rủi ro thiên tai = Cấp độ thiên tai & TTDBTT / Năng lực phòng chống thiên tai.

Học viên được học về cách thức Quản lí rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (QLRRTTDVCĐ), những vấn đề xuyên suốt trong QLRRTTDVCĐ, những bước cụ thể (gồm 6 bước)... Nhìn chung thái độ học viên khá nghiêm túc, bởi ở đây trách nhiệm của họ là học tập cho xã, cho ấp, cho quê hương, về một đề tài thật thiết thực đối với bản thân họ cũng như cộng đồng: Phòng chống rủi ro thiên tai...

Ngày thứ 2: Bắt đầu vào là một trò chơi để warm up. Có lẽ lần đầu làm quen nên ai nấy đều bỡ ngỡ, nhưng điều đó không ngăn cản mọi người bật lên tiếng cười sảng khoái. Tiếp theo đó cho đến hết ngày thứ 5, các học viên học về chủ đề "Đánh giá Rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng" (ĐGRRTT-DVCĐ): Những khái niệm, thuật ngữ mới, các bước thực hiện ĐGRRTT-DVCĐ, những công cụ được dùng để đánh giá...

Ở lớp này mình cũng học được nhiều điều bổ ích: đó là những thông tin mới về một đề tài mới mẻ, tuy xa mà cũng thật gần (có ai mà không dưới một lần nghe thấy, hay đụng độ với thiên tai cơ chứ!). Và một điều nữa rất thiết thực cho công việc tập huấn sau này: đó là phương pháp giảng dạy, cho học viên liên hệ ngay với thực tiễn của địa phương mình. Không nói xa xôi, lí luận trừu tượng; từng người một qua cách làm việc nhóm đưa ra ngay những dữ liệu cụ thể từ thực tiễn địa phương.

Bữa trưa đặt ở một quán ăn gần lớp học. Liên tục được ăn những món mới đậm chất Nam Bộ: nào là cá lóc ướp muối nướng, ăn thấy mằn mặn hay hay, món này ở nhà mà mồi với bia thì hết ý; rồi đến cá lóc nấu canh chua với lục bình (tiếng Nam Bộ gọi bèo Nhật Bản). Bèo Nhật Bản vớt lên, chọn cái đọt non ở giữa, nấu canh chua ăn vừa bùi vừa béo vừa ngọt, ai ngờ lại ngon đến vậy!

Z3
Đại diện Hội NKT Hà Nội và Quảng Nam cùng quan sát cách vẽ sơ đồ hiểm họa 

Đến ngày thứ 6 là ngày đi thực địa: Sau những buổi học lí thuyết khô khan trên lớp, HV phải vận dụng những kiến thức học được, và sử dụng những công cụ đã được chuẩn bị trong mấy ngày trước để phỏng vấn tình hình thiên tai. Thiên tai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long này không đa dạng và dữ dội như ở miền Bắc và miền Trung, nhưng lại kéo dài, dai dẳng hàng mấy tháng trời. Nạn ngập úng và xâm nhập mặn như thứ bệnh kinh niên, kéo dài năm này qua năm khác. Nhiều khi lúa vừa gieo sạ xong, một cơn nước lũ từ Đồng Tháp Mười đổ về là bao công sức mất trắng, phải làm lại từ đầu. Có một nghịch lí là: Vùng đất ở đây trù phú, thiên nhiên ưu đãi, nhưng làm sao vẫn chưa phát triển được, đời sống người dân chưa cao, vẫn còn nhiều khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn cao. Tất cả vẫn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vào thương lái để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm? Chỉ cần thiên nhiên giở chứng một tí thôi là bao nhiêu công lao bà con bị chôn vùi dưới bao lớp đất bùn. Lần đầu tiên mình được tiếp xúc với những người nông dân Nam Bộ "thứ thiệt". Nông dân Việt Nam các vùng miền ở đâu chẳng có nét giống nhau, nhưng miền Tây này có nét đặc thù riêng: có lẽ vì là con cháu của những người đi mở đất, thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên, được thiên nhiên ưu đãi cho sản vật phong phú nên lòng người phóng khoáng, tình cảm và đoàn kết thương yêu nhau. Mỗi khi xảy thiên tai, bà con xúm nhau lại giúp đỡ cho những hộ gia đình bị nạn. Người dân nơi đây gần như ai cũng có sẵn óc khôi hài, bất cứ lúc nào, khung cảnh nào cũng có thể nói dỡn được. Những con người có những cái tên rất Nam Bộ, dân dã mộc mạc: Lừng, Nhịn (viết thành Nhịnh theo kiểu phát âm của Nam Bộ), Xê... Tiếng Nam bộ có âm hưởng mạnh mẽ, nghe sang sảng như chuông, nhưng tiếng địa phương thật nặng, nhiều âm không chuẩn (r thành g,).

Xã Vĩnh Thuận Đông là một xã nằm ở phía tây thị trấn Long Mĩ, vốn là vùng đất cách mạng, đội dân quân xã từng được công nhận là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kì chống Mĩ. Người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Tổng diện tích tự nhiên 2.918,03 ha, chia thành 8 ấp, với tổng số dân 14.436 người. Khí hậu ôn hòa, quanh năm nóng ẩm, ít bão. Qua tham khảo ý kiến cộng đồng, mọi người đều nhất trí rằng loại hình thiên tai ở xã chủ yếu gồm lốc xoáy, ngập lụt, xâm nhập mặn và hạn hán.

Bà con nêu ý kiến thẳng thắn, không vuốt đuôi, không nể nang, có gì nói nấy, đôi người thêm chút khôi hài: "không chỉ có thiên tai, mà còn có "đất tai" nữa". Họ còn hiến kế cho chính quyền nên làm thế nào. Chỉ mong sao những ý kiến ấy được chính quyền tiếp thu và tích cực thực hiện. Đến giữa buổi thì cuộc họp gián đoạn vì cơn mưa rào đổ xuống mái tôn, rầm rầm như pháo nổ, chẳng nghe thấy tiếng người nói nữa. Mưa ở đây mau đổ mau tạnh, chỉ phút chốc là lại tiếp tục cuộc họp. Những kết quả thu được qua những buổi đi thực địa trên sẽ được các HV thu gom, tổng hợp lại thành bản Báo cáo về việc ĐGRRTT-DVCĐ của xã trong buổi họp cuối cùng.

Một số thành viên trong đoàn khảo sát có đi thăm và phỏng vấn một số NKT. Nhìn chung NKT ở xã này có vẻ không được năng động, họ ít được học và học không cao. Các cấp chính quyền cũng rất quan tâm nhưng mới ở khía cạnh trợ cấp nhân đạo và tình cảm chòm xóm mà thôi. Một ít người bươn chải, tự tạo việc làm, tự lo cuộc sống cho bản thân. Hội NKT của tỉnh và huyện không có.

Buổi chiều cuối giờ lại ngồi với các THV và HV cùng một số người dân. Rượu gạo, chỉ khoảng 35°, mạnh hơn bia một chút, uống cũng ngon. Sức uống của mình chấp khoảng 5-6 li, nhưng không dám uống nhiều. Lần đầu tiên ăn quả trứng vịt ung. Người ta nói là trứng lộn một nửa (chắc chỉ nói chơi thôi), mà là trứng ung, tức là trứng ấp nhưng không nở được, có mùi thum thủm. Bình thường mình chẳng bao giờ ăn, nhưng hôm nay vui quá ăn hai quả, may mà thuộc loại "tốt bụng" nên không làm sao. Phải nói bà con anh chị em ở đây rất tình cảm, nhưng nhậu ghê quá, nên mình cũng đâm sợ, nhiều khi đành phải lựa lời từ chối để họ "tha" cho. Tất cả nhiệm vụ "nhậu nhẹt" đành phó thác cho anh bạn Hội NKT Quảng Nam vậy.

Cuối cùng rồi 10 ngày làm việc căng thẳng cũng kết thúc. Buổi liên hoan chia tay diễn ra thân mật, cảm động, có ban nhạc tài tử của xã đến góp vui. Thực khách nhiều người có tiết mục đóng góp.

Về đến TP. HCM, cả đoàn dành cả buổi sáng họp tổng kết. Qua 10 ngày tích cực làm việc, đoàn khảo sát đã học tập được nhiều kĩ năng bổ ích, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm, đồng thời nhận thấy nhiều điểm bất cập của chương trình tập huấn. Thiếu sót lớn nhất của khóa tập huấn này là tuy có nhắc tới những đối tượng dễ bị tổn thương cần quan tâm, trong đó có NKT, nhưng thông tin hướng dẫn lồng ghép hòa nhập của NKT trong Quản lí rủi ro thiên tai chưa đầy đủ, chưa cụ thể. Nội dung tập huấn chưa đề cập lồng ghép hòa nhập NKT. Các tập huấn viên chưa có kĩ năng huy động sự tham gia của NKT. Thiếu NKT tham gia vào nhóm Hỗ trợ kĩ thuật và nhóm cộng đồng. Chưa có sự tham gia đồng đều của NKT trong quá trình đánh giá VCA. Thông tin của NKT trong kết quả đánh giá khá VCA mờ nhạt.

Dựa trên những kết quả quan sát nói trên, các thành viên của đoàn sẽ có những kiến nghị bổ sung tài liệu tập huấn, đồng thời sẽ thiết kế chương trình tập huấn TOT cho các tổ chức NKT trong khuôn khổ Dự án lồng ghép hòa nhập NKT trong giảm thiểu rủi ro thiên tai sau này.

Nguyễn Trung
Hội NKT TP. Hà Nội

<Về trước   Tiếp theo>
 
Tin tức qua ảnh
a5.gif
Banner
 APDF  RI

The Sponsors: RI A/P, APDF and JSPD; The funding partners: RI and Asia Trust
Developed by CCNE, 2009, Vietnam National Unversity, Hanoi
144 Xuân Thủy - Cầu Giấy - Hà Nội, Tel: 84.347.547.463, Fax: 84.347.547.460, Email: ctnet@vnu.edu.vn